Thứ Sáu, 11 tháng 3, 2022

Có thể đòi lại xe bị lấy trộm đã được bán cho người khác không?

Có thể đòi lại xe bị lấy trộm đã bán cho người khác không? theo pháp luật xe bị lấy trộm vẫn còn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu xe. Vậy làm thế nào để chủ sở hữu  đòi lại xe của mình khi xe bị trộm bán cho người khác. Trong bài viết này sẽ làm rõ các vấn đề đó.

Có thể đòi lại xe bị lấy trộm đã được bán cho người khác không?

Có thể đòi lại xe bị lấy trộm đã được bán cho người khác không?

>>>Xem thêm: Xác định bồi thường thiệt hại vụ án hình sự có đồng phạm

Chủ sở hữu có quyền đòi lại tài sản bị lấy trộm không?

Theo pháp Luật hiện hành chủ sở hữu tài sản hoàn toàn có quyền đòi lại tài sản của minh. Căn cứ theo Bộ luật dân sự 2015 cụ thể tại Điều 166. Quyền đòi lại tài sản:

  • Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.
  • Chủ sở hữu không có quyền đòi lại tài sản từ sự chiếm hữu của chủ thể đang có quyền khác đối với tài sản đó.

Đối với tài sản là xe máy thuộc đối tượng là động sản phải đăng ký thì căn cứ theo Điều 168 Quyền đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình Chủ sở hữu được đòi lại động sản phải đăng ký quyền sở hữu hoặc bất động sản từ người chiếm hữu ngay tình, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật này

Chuyển giao hợp pháp cho bên thứ ba

Căn cứ theo Điều 165 Bộ Luật Dân sự 2015. Chiếm hữu có căn cứ pháp luật

Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản trong trường hợp sau đây:

  • Chủ sở hữu chiếm hữu tài sản;
  • Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản;
  • Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật;
  • Người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu, tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn, giấu, bị vùi lấp, chìm đắm phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
  • Người phát hiện và giữ gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc phù hợp với điều kiện theo quy định của Bộ luật này, quy định khác của pháp luật có liên quan;
  • Trường hợp khác do pháp luật quy định.

Việc chiếm hữu tài sản không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều này là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật.

Từ những điều trên nếu một người nào đó chiếm hữu tài sản muốn chuyển giao tài sản cho bên thứ ba ví dụ như: Người được chủ sở hữu ủy quyền quản lý tài sản; Người được chuyển giao quyền chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự phù hợp với quy định của pháp luật; thì sẽ được  pháp luật công nhận

Chuyển giao không hợp pháp cho bên thứ ba

Về việc một người nào đó trộm tài sản sau đó bán lại cho bên thứ ba thì Theo bộ luật dân sự Điều 430. Hợp đồng mua bán tài sản: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua và bên mua trả tiền cho bên bán”.

Như vậy, về nguyên tắc theo quy định của luật việc mua bán tài sản chỉ được thực hiện khi một bên giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia. Tuy nhiên, trong trường hợp này, người nào đó đã đem tài sản không thuộc quyền sở hữu của mình và cũng không được sự đồng ý của chủ sở hữu để thực hiện giao dịch mua bán tài sản với người khác. Do vậy, việc mua bán với bên thứ ba trong trường hợp này là thực hiện không đúng theo quy định của pháp luật.

Bên thứ ba ngay tình chiếm hữu tài sản  thì đòi lại tài sản như thế nào

Bên thứ ba ngay tình chiếm hữu tài sản  thì đòi lại tài sản như thế nào

>>>Xem thêm: Mẫu đơn đề nghị bồi thường thiệt hại

Bên thứ ba ngay tình chiếm hữu tài sản  thì đòi lại tài sản như thế nào?

Tại Khoản 2 Điều 133 BLDS 2015 quy định về “ Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu.

Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị hủy, sửa”.

Như vậy, khi giao dịch dân sự vô hiệu, vấn đề bảo vệ người thứ ba ngay tình được đặt ra, tuy nhiên việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình phải đặt trên sự cân bằng với lợi ích của chủ sở hữu ban đầu. Đồng thời, công nhận giao dịch có hiệu lực là cách tối ưu để bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình nhưng không phải trong mọi trường hợp giao dịch của người thứ ba ngay tình cũng được công nhận có hiệu lực. Nếu công nhận giao dịch của người thứ ba ngay tình có hiệu lực thì họ nhận được tài sản giao dịch, nếu giao dịch của người thứ ba ngay tình vô hiệu thì quyền lợi của họ được bảo vệ bằng cách yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Quyền yêu cầu bồi thường giá trị thiệt hại

Về quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại thì chủ sở hữu hoàn toàn có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu bồi thường thiệt hại theo Bộ Luật Dân sự 2015 và yêu cầu phải còn thời hiệu. cụ thể:

Điều 170. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản bồi thường thiệt hại.

Điều 588. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Thủ tục yêu cầu xử lý hình sự hoặc khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Thủ tục yêu cầu xử lý hình sự hoặc khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

>>>Xem thêm: Thời hạn điều tra vụ án hình sự khoảng bao lâu

Thủ tục yêu cầu xử lý hình sự hoặc khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Thủ tục yêu cầu xử lý hình sự

Về thủ tục yêu cầu xử lý hình sự nếu thấy có dấu hiệu phạm tội thì căn cứ theo điều 146 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau:

Điều 146. Thủ tục tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 145 của Bộ luật này phải lập biên bản tiếp nhận và ghi vào sổ tiếp nhận; có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh việc tiếp nhận.

Trường hợp tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gửi qua dịch vụ bưu chính, điện thoại hoặc qua phương tiện thông tin khác thì ghi vào sổ tiếp nhận.

  1. Trường hợp phát hiện tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm chuyển ngày tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố kèm theo tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 145 của Bộ luật này thì trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày Viện kiểm sát có yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền đang thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố đó phải chuyển hồ sơ có liên quan cho Viện kiểm sát để xem xét, giải quyết.

  1. Công an phường, thị trấn, Đồn Công an có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, tiến hành kiểm tra, xác minh sơ bộ và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

Công an xã có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban đầu và chuyển ngay tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

  1. Các cơ quan, tổ chức khác sau khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm thì chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền. Trường hợp khẩn cấp thì có thể báo tin trực tiếp qua điện thoại hoặc hình thức khác cho Cơ quan điều tra nhưng sau đó phải thể hiện bằng văn bản.
  2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm thông báo bằng văn bản về việc tiếp nhận đó cho Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện kiểm sát có thẩm quyền.

Đối với trường hợp tài sản bị mất cắp có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 thì người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm theo điều 173 Bộ Luật Hình Sự 2015 Sửa đổi bổ sung năm 2017

Khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Đối với việc khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự theo Điều 30 Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự 2015: “Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường thiệt hại, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì vấn đề dân sự có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”.

Thông tin liên hệ luật sư.

Hiện nay, Luật Long Phan PMT nhận hỗ trợ “tư vấn pháp luật” trực tuyến 24/7 cho khách hàng qua các hình thức như sau:

  • Tư vấn pháp luật Dân Sự, Hình Sự qua tổng đài: 63.63.87
  • Tư vấn pháp luật qua EMAIL: pmt@luatlongphan.vn
  • Tư vấn pháp luật qua FACEBOOK: Fanpage Luật Long Phan
  • Tư vấn pháp luật trực tiếp tại TRỤ SỞ CÔNG TY: Tầng 14 Tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, quận 3, TP. HCM

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi liên quan đến Có thể đòi lại xe bị lấy trộm đã bán cho người khác. Nếu bạn đọc có nhu cầu TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ gửi hồ sơ tài liệu hoặc đặt lịch gặp trực tiếp luật sư vui lòng liên hệ với Công ty Luật Long Phan PMT qua HOTLINE: 1900.63.63.87. Xin cám ơn!

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email:pmt@luatlongphan.vn hoặc info@luatlongphan.vn.



Nguồn: Luật Sư Vũ Viết Năng – Luật Long Phan

Thứ Năm, 10 tháng 3, 2022

Thủ tục khởi kiện bên cung ứng dịch vụ không đạt yêu cầu?

Trong các hợp đồng cung ứng dịch vụ các bên có quyền và nghĩa vụ đối xứng với nhau. Tuy nhiên bên cung ứng dịch vụ không đáp ứng đạt yêu cầu sẽ làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của bên sử dụng dịch vụ, trên cơ sở đó một bên khởi kiện tranh chấp về vụ án dân sự. Vậy thủ tục khởi kiện bên cung ứng dịch vụ không đạt yêu cầu như thế nào, hãy cùng Long Phan PMT tìm hiểu về vấn đề này.

Thủ tục khởi kiện cung ứng dịch vụ không đạt yêu cầu

Thủ tục khởi kiện cung ứng dịch vụ không đạt yêu cầu

Cơ sở khởi kiện bên cung cấp dịch vụ không đạt yêu cầu.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 517 Bộ luật Dân sự 2015 nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ là:

  • Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và thỏa thuận khác.
  • Báo ngay cho bên sử dụng dịch vụ về việc thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm chất lượng để hoàn thành công việc….

Căn cứ vào khoản 1 Điều 520 Bộ luật Dân sự 2015 thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

  • Trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên sử dụng dịch vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý; bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại.

>>>Xem thêm: Trình tự nộp đơn khởi kiện đúng toà án có thẩm quyền giải quyết?

Thủ tục khởi kiện

Đơn khởi kiện

Căn cứ vào Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và mẫu 23-DS nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP về đơn khởi kiện, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi kiện và đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau:

  • Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
  • Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;
  • Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).
  • Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;
  • Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);
  • Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;
  • Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).
    • Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);
  • Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.

>>>Xem thêm: Tài liệu chứng cứ khi nộp đơn khởi kiện dân sự

Đơn khởi kiện

Đơn khởi kiện

Nhận và xử lý đơn khởi kiện

Căn cứ vào Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện như sau:

  • Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn.
  • Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện. Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
  • Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.
  • Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định.

Thụ lý vụ án

Căn cứ vào Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án sẽ thụ lý vụ án như sau:

  • Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì Thẩm phán phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Tòa án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí.
  • Thẩm phán dự tính số tiền tạm ứng án phí, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện để họ nộp tiền tạm ứng án phí. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí và nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí.

Hoà giải và chuẩn bị xét xử

Căn cứ vào Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì trong thời hạn chuẩn bị xét xử Thẩm phán sẽ tiến hành thực hiện các nhiệm vụ sau:

  • Lập hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 198 của Bộ luật này;
  • Xác định tư cách đương sự, người tham gia tố tụng khác;
  • Xác định quan hệ tranh chấp giữa các đương sự và pháp luật cần áp dụng;
  • Làm rõ những tình tiết khách quan của vụ án;
  • Xác minh, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này;
  • Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
  • Tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật này, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn;
  • Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Bộ luật này.

>>>Xem thêm: Thủ tục giải quyết tranh chấp hợp đồng nhượng quyền thương mại

Phiên tòa sơ thẩm

Phiên tòa sơ thẩm

Xét xử sơ thẩm và quyền kháng cáo phúc thẩm

  • Sau khi thực hiện các bước tố tụng trên thì tòa án sẽ tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm, tòa án sẽ dựa vào các chứng cứ và chứng minh của các đương sự và đưa ra bản án hay quyết định trong nội dung của vụ án mà các đương sự cung cấp thông qua các tài liệu, chứng cứ đương sư giao nộp.
  • Căn cứ Điều 271 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Dịch vụ luật sư Long Phan PMT hỗ trợ pháp lý để khởi kiện

Luật Long Phan PMT nhận hỗ trợ dịch vụ luật sư trực tuyến 24/7 qua các hình thức như sau:

  • Tư vấn pháp luật qua EMAIL: pmt@luatlongphan.vn
  • Tư vấn pháp luật qua FACEBOOK: Fanpage Luật Long Phan
  • Tư vấn luật qua ZALO: 1900636387
  • Cần dịch vụ luật sư tranh tụng vui lòng liên hệ TỔNG ĐÀI ĐIỆN THOẠI 1900 63.63.87
  • Gặp trực tiếp luật sư tranh tụng tại TRỤ SỞ CÔNG TY: Tầng 14 Tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, quận 3, TP. HCM
  • Tại Văn Phòng Luật sư Quận Bình Thạnh: 277/45 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 15, Bình Thạnh, HCM

Quy trình tiếp nhận và cung cấp dịch vụ

  • Bước 1: Tiếp nhận hồ sơ, tài liệu và yêu cầu của khách hàng;
  • Bước 2: Hội đồng luật sư tiếp nhận và báo phí dịch vụ nếu có thể hỗ trợ theo yêu cầu của khách hàng;
  • Bước 3: Khách hàng và Luật Long Phan PMT ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý và thanh toán phí theo thỏa thuận;
  • Bước 4: Luật sư chuyên môn phụ trách nghiên cứu và xử lý các công việc tư vấn cho khách hàng cũng như thực hiện công việc tại tòa án các cấp;
  • Bước 5: Luật sư chuyên môn phụ trách thông báo tiến độ xử lý tại tòa án và tư vấn hướng giải quyết tiếp theo cho đến khi tranh chấp được giải quyết;

Cam kết chất lượng dịch vụ

Với tôn chỉ “Tận tâm – uy tín – hiệu quả”, công ty Luật Long Phan PMT cam kết với khách hàng về chất lượng dịch vụ luật sư tranh tụng. Bên cạnh đảm bảo về về chất lượng dịch vụ pháp lý, đảm bảo thực hiện công việc theo đúng quy định pháp luật, đúng lương tâm, đạo đức hành nghề của một luật sư, chúng tôi còn mang đến sự hài lòng và an tâm đến quý khách hàng.

Không chỉ thế, dịch vụ luật sư tranh tụng của công ty Luật Long Phan PMT luôn luôn đặt quyền lợi của khách hàng lên hàng đầu. Chúng tôi luôn nỗ lực hết mình, cống hiến tri thức pháp luật đến khách hàng, mang lại hiệu quả công việc cho khách hàng.

Bên cạnh những quyền lợi và cam kết về chất lượng dịch vụ, công ty Luật Long Phan PMT còn có một ưu đãi đặc biệt đối với những khách hàng đã tin tưởng và đã sử dụng dịch vụ luật sư tranh tụng của công ty đó là chính sách hậu mãi. Cụ thể là khi đã quý khách hàng đã sử dụng qua dịch vụ của công ty luật chúng tôi thì đến những lần sử dụng tiếp theo, quý khách hàng có thể sẽ được tư vấn và hỗ trợ các vấn đề pháp lý MIỄN PHÍ.

Thông tin liên hệ

Trên đây là nội dung tư vấn về thủ tục khởi kiện bên cung ứng dịch vụ không đạt yêu cầu? Nếu quý bạn đọc còn có những thắc mắc các vấn đề liên quan đến TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ hoặc các vấn đề khác về pháp luật dân sự, vui lòng thông qua tổng đài 1900.63.63.87, Luật sư Dân sự của Long Phan PMT hy vọng có thể giúp đỡ được nhiều người với nhiều nhu cầu dịch vụ pháp lý khác nhau. Hotline 1900.63.63.87 Luôn sẳn sàng lắng nghe những thắc mắc từ quý khách hàng mọi lúc, mọi nơi, kết nối bạn đến với những tư vấn từ những luật sư giỏi về chuyên môn, nhiệt tình trong công việc.

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: pmt@luatlongphan.vn hoặc info@luatlongphan.vn.



Nguồn: Luật Sư Vũ Viết Năng – Luật Long Phan

Thứ Tư, 9 tháng 3, 2022

Hướng xử lý không vay tiền nhưng vẫn bị đòi nợ

Trong cuộc sống thì nhiều trường hợp cá nhân không vay nợ nhưng bị các công ty hay cá nhân yêu cầu trả nợ, ảnh hưởng và làm phiền đến cuộc sống cũng như uy tín của cá nhân của mình. Vậy trong tình huống này cá nhân cần phải xử lý như thế nào khi không vay tiền nhưng vẫn bị đòi nợ. Quý bạn đọc hãy cùng Long Phan PMT tìm hiểu về vấn đề này.

Hướng xử lý không vay tiền nhưng vẫn bị đòi nợ

Hướng xử lý không vay tiền nhưng vẫn bị đòi nợ

Thu thập tài liệu, chứng cứ về hành vi đòi nợ

Khi trong tình huống này cá nhân cần phải tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ về hành vi đòi nợ để làm cơ sở cho khiếu kiện, tố cáo:

  • Lưu thông tin địa chỉ của tổ chức, cá nhân có hành vi đòi nợ.
  • Ghi âm, sao chụp các hành vi đòi nợ của tổ chức, cá nhân có hành vi đòi nợ.
  • Có thể yêu cầu thừa phát lại lập vi bằng về hành vi đòi nợ của tổ chức, cá nhân.
  • Lưu giữ các tài liệu mà tổ chức, cá nhân gửi cho người bị đòi nợ.
  • Yêu cầu những người xung quanh có thể làm người làm chứng về hành vi đòi nợ….

Căn cứ vào Điều 14 Luật giao dịch điện tử 2005 thì khi thu thập các tài liệu chứng cứ là thông điệp dữ liệu cần lưu ý các vấn đề sau:

  • Thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì đó là một thông điệp dữ liệu.
  • Giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác.

>>>Xem thêm: Cho vay tiền không có giấy tờ có đòi được không?

Tố giác về hành vi vu khống

Tố giác về hành vi vu khống

Tố giác về hành vi vu khống, làm nhục người khác

  • Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP người nào xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.
  • Căn cứ vào Điều 155 và Điều 156 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 người nào có hành vi làm nhục và vu khống người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và hình phạt cao nhất lên tới 07 năm tù.
  • Tại khoản 1 Điều 7 Thông tư 28/2020 của Bộ Công an; và Điều 163 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; để cơ quan này tiến hành điều tra, xác minh sự việc cũng như có phương án xử lý với người vu khống, làm nhục người khác, cần phải làm đơn tố giác gửi tới cơ quan công an có thẩm quyền:
  • Công an xã, phường, thị trấn: Có nhiệm vụ phân loại, xử lý tin báo về tội phạm;
    • Công an điều tra cấp huyện: Có nhiệm vụ điều tra vụ án hình sự về những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện;
  • Công an điều tra cấp tỉnh: Có nhiệm vụ điều tra những tội phạm thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, có yếu tố nước ngoài…

>>>Xem thêm: Hướng dẫn thủ tục khởi kiện đòi nợ tiền cá nhân

 Khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại

Khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp không khởi tố vụ án và không thỏa thuận được về dân sự

Trong trường hợp không đủ khởi tố vụ án và không thoả thuận được về dân sự thì có thể khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:

  • Căn cứ vào Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015 thì người nào có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín,… quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường. Vì vậy trong trường hợp này trách nhiệm bồi thường thiệt hại đã phát sinh.

Căn cứ vào Điều 592 người khởi kiện có thể yêu cầu những khoản thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm như sau:

  • Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:
  • Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
    • Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
  • Thiệt hại khác do luật quy định.
  • Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

>>>Xem thêm: Vỡ nợ không có khả năng trả thì xử lý như thế nào?

Liên Hệ

Trên đây là nội dung tư vấn về hướng xử lý khi không vay tiền nhưng vẫn bị đòi nợ. Nếu quý bạn đọc còn có những thắc mắc các vấn đề liên quan đến tư vấn hoặc các vấn đề khác về pháp luật dân sự, vui lòng thông qua tổng đài 1900.63.63.87, Luật sư TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ của Long Phan PMT hy vọng có thể giúp đỡ được nhiều người với nhiều nhu cầu dịch vụ pháp lý khác nhau. Hotline 1900.63.63.87 Luôn sẳn sàng lắng nghe những thắc mắc từ quý khách hàng mọi lúc, mọi nơi, kết nối bạn đến với những tư vấn từ những luật sư giỏi về chuyên môn, nhiệt tình trong công việc.

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: pmt@luatlongphan.vn hoặc info@luatlongphan.vn.



Nguồn: Luật Sư Vũ Viết Năng – Luật Long Phan

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2022

Buộc người khác phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ khi yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Buộc người khác phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ khi yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là kết quả của việc áp dụng một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quyết định của Tòa án. Với một đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệp, Luật sư dân sự sẽ giúp cho khách hàng hiểu rõ ràng hơn về những biện pháp này.

Buộc người khác phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ - áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Buộc người khác phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ – áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

>>>Xem thêm:Khi nào được yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong vụ án dân sự?

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc người khác phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ

Những biện pháp khẩn cấp buộc người khác phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ được coi là một công cụ mà các bên đương sự sử dụng để bảo vệ các quyền và lợi ích của mình. Dù các biện pháp này chỉ mang tính chất tạm thời trong thời gian giải quyết vụ việc, nhưng việc áp dụng biện pháp này vẫn có khả năng gây bất lợi cho bên bị áp dụng hoặc bên thứ ba cũng như tạo ra sự cân bằng quyền lợi giữa các bên.

Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục

Theo Điều 115 BLTTDS 2015 thì biện pháp khẩn cấp tạm thời “giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục” được áp dụng cho các chủ thể được pháp luật quy định tại Điều Điều 21, Điều 22, Điều 23 BLDS 2015 nếu  khi việc giải quyết vụ án có liên quan đến những người này mà họ chưa có người giám hộ. Tuy nhiên, đối với trường hợp người chưa thành niên từ đủ bảy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người đó.

Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng

Buộc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Điều 116 BLTTDS 2015. Theo đó, biện pháp sẽ được áp dụng thỏa mãn 03 điều kiện:

  • Việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu cấp dưỡng;
  • Xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ;
  • Nếu không thực hiện trước ngay một phần nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ, đời sống của người được cấp dưỡng.

Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm

Căn cứ Điều 117 BLTTDS 2015 thì biện pháp buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm được áp dụng khi xét thấy việc giải quyết vụ án có liên quan đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm.

Buộc người sử dụng lao động tạm ứng các khoản lương, bảo hiểm, chi phí, trợ cấp theo quy định của pháp luật cho người lao động

Theo Điều 1118 BLTTDS 2015 thì nếu xét thấy cần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động về tiền lương, tiền bảo hiểm, tiền bồi thường, tiền trợ cấp, chăm sóc sức khỏe theo quy định của pháp luật, thì biện pháp buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động sẽ được áp dụng.

Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định

Theo quy định tại Điều 127 BLTTDS 2015 thì nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết thì sẽ áp dụng biện pháp cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.

Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định

Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định

Căn cứ để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc người khác phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ

Việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng dựa trên:

  • Yêu cầu của các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện thông qua đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được gửi tới Tòa án có thẩm quyền;
  • Yêu cầu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra.

>>>Xem thêm:
Có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng lúc với đơn khởi kiện hay không?

Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc người khác phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ được xem xét, quyết định bởi Thẩm phán phải đảm bảo:

  • Quyền và lợi ích liên quan của bên yêu cầu đang bị xâm phạm hoặc đe dọa xâm phạm và yêu cầu này không vượt quá các yêu cầu của tranh chấp giữa các bên;
  • Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này phải áp dụng trong bối cảnh, tình huống khẩn cấp, cấp bách;
  • Giả thiết về việc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ gây ra thiệt hại lớn hơn đáng kể so với thiệt hại sẽ xảy ra đối với bên bị áp dụng hoặc bên thứ ba là có căn cứ.

Bên cạnh đó, Theo Điều 135 BLTTDS 2015 thì Tòa án cũng có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc người khác phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ trong trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, bao gồm:

  • Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục;
  • Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng;
  • Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm;
  • Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

>>>Xem thêm:Thẩm phán không chịu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì làm gì?

Thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc người khác phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ

Theo quy định tại Điều 130 Luật Thi hành án dân sự 2014 thì trọng thời hạn 24 giờ, kể từ khi nhận được quyết định thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên phải áp dụng ngay các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế:

  • Biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc thực hiện công việc nhất định, cũng chế thi hành nghĩa vụ không được thực hiện công việc nhất định, cưỡng chế thực hiện biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại giao người chưa thành niên cho người được giao nuôi dưỡng theo bản án, quyết định để bảo đảm thi hành quyết định về cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định; giao người chưa thành niên cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
  • Khấu trừ tiền trong tài khoản; thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của người phải thi hành án; trừ vào thu nhập của người phải thi hành án; kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; buộc chuyển giao vật, chuyển giao quyền tài sản, giấy tờ để bảo đảm thi hành quyết định về buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng; buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe bị xâm phạm; buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.

Trong trường hợp người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở địa phương khác thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thể xem xét tùy từng trường hợp để ra quyết định ủy thác cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người đó cư trú hoặc nơi có tài sản tổ chức thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Thông tin liên hệ luật sư

Hiện nay, Luật Long Phan PMT nhận hỗ trợ “tư vấn pháp luật” trực tuyến 24/7 cho khách hàng qua các hình thức như sau:

  • Tư vấn pháp luật Đất Đai qua tổng đài: 1900.63.63.87
  • Tư vấn pháp luật qua EMAIL: pmt@luatlongphan.vn
  • Tư vấn pháp luật qua FACEBOOK: Fanpage Luật Long Phan
  • Tư vấn pháp luật trực tiếp tại TRỤ SỞ CÔNG TY: Tầng 14 Tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, quận 3, TP. HCM

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn liên quan đến Buộc người khác phải thực hiện trước một phần nghĩa vụ khi yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Quý bạn đọc còn  bất cứ thắc mắc nào cần giải đáp hoặc cần nhận được sự hỗ trợ từ TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ, vui lòng liên hệ với chúng tôi qua HOTLINE 1900.63.63.87 để được hỗ trợ tốt nhất. Xin chân thành cảm ơn.

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy vào từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email pmt@luatlongphan.vn hoặc info@luatlongphan.vn.



Nguồn: Luật Sư Vũ Viết Năng – Luật Long Phan

Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2022

Cấm người có nghĩa vụ thực hiện một hành vi khi yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Cấm người có nghĩa vụ thực hiện một hành vi khi yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời giúp kịp thời ngăn chặn các hành vi có tác động tiêu cực đến quá trình Tòa án giải quyết và thi hành án. Mỗi yêu cầu đưa ra cần đảm bảo đúng quy định pháp luật, phù hợp với thực tế và mang tính hiệu quả khi thực hiện. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho bạn đọc những thông tin về các biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể áp dụng nhằm cấm người có nghĩa vụ thực hiện một hành vi nhất định.

Cấm người có nghĩa vụ thực hiện một hành vi khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) được quy định tại Điều 111 BLTTDS 2015. Nhìn chung, thủ tục áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm đáp ứng yêu cầu giải quyết vụ án nhanh chóng và đảm bảo an toàn về mặt pháp lý cho các bên đương sự như một quyền cơ bản của họ.

Thứ nhất, quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT là quyền của đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 BLTTDS 2015. Tòa án có thể tự mình áp dụng BPKCTT đối với các biện pháp quy định tại khoản 1,2,3,4,5 Điều 114 BLTTDS 2015 mà không cần có đơn yêu cầu.

Thứ hai, thời điểm yêu cầu áp dụng BPKCTT:

  • Trong suốt quá trình giải quyết vụ án
  • Yêu cầu đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện trong trường hợp khẩn cấp

Thứ ba, về trường hợp được áp dụng (khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP):

  • Để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự có liên quan trực tiếp đến vụ án đang được Tòa án giải quyết mà cần phải được giải quyết ngay, nếu chậm trễ sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của đương sự;
  • Để thu thập, bảo vệ chứng cứ của vụ án đang do Tòa án thụ lý, giải quyết trong trường hợp đương sự cản trở việc thu thập chứng cứ hoặc chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được;
  • Để bảo toàn tình trạng hiện có, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, tức là bảo toàn mối quan hệ, đối tượng có liên quan trực tiếp đến vụ án đang được Tòa án giải quyết;
  • Để bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc thi hành án, tức là làm cho chắc chắn các căn cứ để giải quyết vụ án, các điều kiện để khi bản án, quyết định của Tòa án được thi hành thì có đầy đủ điều kiện để thi hành án.

Nhìn chung, khi đảm bảo các điều kiện trên, người yêu cầu có quyền nộp đơn yêu cầu áp dụng BPKCTT đến Tòa án có thẩm quyền thụ lý. Đối với các BPKCTT liên quan đến việc cấm một người có nghĩa vụ thực hiện một hành vi, đây là các biện pháp mà Tòa án không thể tự mình áp dụng khi không có đơn yêu cầu. Vì vậy, thủ tục nộp đơn cũng là thủ tục bắt buộc để giải quyết nếu muốn thực hiện quyền yêu cầu áp dụng BPKCTT trong các trường hợp dưới đây.

>>>Xem thêm:
Có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng lúc nộp đơn khởi kiện không?

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời nào nhằm cấm người có nghĩa vụ thực hiện một hành vi

Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp

Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp quy định tại Điều 121 BLTTHS 2015. Theo đó, biện pháp trên được áp dụng khi trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp cho người khác. Như vậy, để áp dụng biện pháp này, người yêu cầu phải chứng minh rằng người giữ tài sản có ý định tẩu tán, hủy hoại tài sản và đang hiện thực hóa ý định đó. Bên cạnh đó, có thể thấy pháp luật quy định đối tượng của biện pháp này là tài sản đang tranh chấp giữa các bên.

Tuy nhiên, không phải trường hợp nào khi đủ điều kiện trên cũng có thể áp dụng biện pháp này. Theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP, việc áp dụng biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp không được áp dụng nếu thuộc các trường hợp sau:

  • Tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ mà biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba theo quy định tại Điều 297 BLDS 2015, trừ trường hợp người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đồng thời là bên nhận bảo đảm;
  • Tài sản đã được tổ chức bán đấu giá và người mua được tài sản bán đấu giá đã nộp đủ tiền mua tài sản bán đấu giá, trừ trường hợp kết quả bán đấu giá bị hủy theo quy định của pháp luật hoặc đương sự có thỏa thuận khác.

Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp

BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp được quy định tại Điều 122 BLTTDS 2015. Theo quy định pháp luật, đương sự có thể áp dụng biện pháp cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp nếu trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người đang chiếm hữu hoặc giữ tài sản đang tranh chấp có hành vi tháo gỡ, lắp ghép, xây dựng thêm hoặc có hành vi khác làm thay đổi hiện trạng tài sản đó.

Để bảo toàn tài sản tranh chấp và đảm bảo cho việc thi hành án, đương sự có thể yêu cầu áp dụng biện pháp này nhằm cấm người có nghĩa vụ thực hiện hành vi tác động đến tài sản đang tranh chấp, giữ nguyên trạng thái của tài sản. Bởi lẽ khi thay đổi hiện trạng tài sản sẽ dẫn đến việc xem xét, đánh giá vụ việc không được khách quan, toàn diện và đầy đủ dẫn đến bản án, quyết định thiếu chính xác.

Cũng như biện pháp cấm chuyển dịch quyền về tài sản, biện pháp khẩn cấp tạm thời này cũng chỉ được áp dụng đối với các tài sản tranh chấp. Như vậy, đối với những tài sản khác của người có nghĩa vụ tuy có khả năng bảo đảm thi hành án nhưng nếu không có tranh chấp thì cũng không được áp dụng biện pháp trên.

Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định

Biện pháp khẩn cấp tạm thời này được quy định tại khoản 12 Điều 114 và Điều 127 BLTTDS 2015. Theo đó, trong quá trình giải quyết vụ án, nếu có căn cứ cho thấy đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có liên quan trong vụ án đang được Tòa án giải quyết thì người yêu cầu có thể gửi đơn đến Tòa án yêu cầu áp dụng biện pháp này.

Có thể thấy, BPKCTT cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định có tính bao quát cao, phạm vi đối tượng áp dụng rất rộng. Vì vậy, khi áp dụng cần xác định rõ có thuộc trường hợp áp dụng các biện pháp khác như: phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ hay cấm dịch chuyển quyền về tài sản,… hay không. Việc xác định chính xác biện pháp cần áp dụng là căn cứ để áp dụng các biện pháp bảo đảm đi kèm vì biện pháp cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định không bị buộc thực hiện biện pháp bảo đảm theo Điều 136 BLTTDS 2015.

Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ

Hành vi xuất cảnh nhằm di chuyển đến nơi khác ngoài lãnh thổ để trốn tránh nghĩa vụ cần phải phải được ngăn chặn để đảm bảo cho việc bảo vệ quyền và lợi ích của bên yêu cầu. Để ngăn chặn người có nghĩa vụ thực hiện hành vi này, đương sự có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ. Đây là một trong những biện pháp khẩn cấp tạm thời theo khoản 13 Điều 114, được quy định cụ thể tại Điều 128 BLTTDS 2015 và được hướng dẫn chi tiết bởi Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP.

Theo các quy định trên, không phải bao giờ người có nghĩa vụ thực hiện hành vi xuất cảnh thì đương sự cũng có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp này mà phải có đủ các căn cứ sau đây:

  • Người bị áp dụng biện pháp cấm xuất cảnh là đương sự đang bị đương sự khác yêu cầu Tòa án buộc họ phải thực hiện nghĩa vụ;
  • Việc xuất cảnh của họ ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác hoặc để bảo đảm việc thi hành án.

Như vậy, có thể thấy nếu không có căn cứ rằng việc xuất cảnh của người có nghĩa vụ “ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án” thì không được áp dụng biện pháp này. Ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án chưa được hướng dẫn cụ thể, tuy nhiên có thể hiểu đây là những trường hợp mà nếu người có nghĩa vụ thực hiện hành vi xuất cảnh thì việc xác minh, thu thập chứng cứ,.. để giải quyết vụ án sẽ gặp trở ngại, khó khăn, thậm chí không thể thực hiện được.

Mặt khác, cần lưu ý rằng biện pháp khẩn cấp tạm thời cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ không áp dụng đối với người nước ngoài mà sẽ áp dụng biện pháp khác theo quy định tại Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam (khoản 2 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP).

>>>Xem thêm:
Khi nào được yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong vụ án dân sự?

Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ

Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ

Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình

Cấm người có hành vi bạo lực gia đình tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình là biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại khoản 14 Điều 114 và Điều 129  BLTTDS 2015. Đây là quy định mới so với BLTTDS 2005. nhằm hạn chế những tác động xấu do nạn bạo lực gia đình gây ra. Biện pháp này  được áp trong trường hợp cần thiết để bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự của nạn nhân bạo lực gia đình theo quy định của Luật phòng chống bạo lực gia đình.

Theo quy định của pháp luật, Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp này khi đáp ứng các điều kiện cơ bản theo Điều 21 Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2007:

  • Đương sự có đơn yêu cầu áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc gửi đến Tòa án có thẩm quyền,
  • Chứng minh được hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại đến sức khỏe, đe dọa đến tính mạng: Có giấy xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Có dấu vết thương tích trên cơ thể nạn nhân có thể nhận thấy rõ bằng mắt thường hoặc có dấu hiệu rõ ràng về hoảng loạn tinh thần của nạn nhân bạo lực gia đình; Có chứng cứ chứng minh có sự đe dọa gây tổn hại đến sức khỏe hoặc tính mạng của nạn nhân bạo lực gia đình (theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 9 Nghị định số 08/2009/NĐ-CP)
  • Người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân bạo lực gia đình có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc: nhà bạn bè, người thân,…

Ngoài ra, Điều 8 Nghị định số 08/2009/NĐ-CP cũng hướng dẫn cụ thể về biện pháp cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình. Theo đó, biện pháp này không cho phép người có hành vi bạo lực gia đình thực hiện các hành vi sau đây:

  • Đến gần nạn nhân trong khoảng cách dưới 30m; trừ trường hợp giữa người có hành vi bạo lực gia đình và nạn nhân có sự ngăn cách như tường, hàng rào hoặc các vật ngăn cách khác, bảo đảm đủ an toàn cho nạn nhân.
  • Sử dụng điện thoại, fax, thư điện tử hoặc các phương tiện thông tin khác để thực hiện hành vi bạo lực với nạn nhân.

Có thể yêu cầu áp dụng nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng lúc để cấm người có nghĩa vụ thực hiện hành vi không?

Hiện nay, căn cứ khoản 1 Điều 111 BLTTDS 2015, đương sự có quyền yêu cầu áp dụng nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng lúc để cấm người có nghĩa vụ thực hiện hành vi. Mỗi biện pháp yêu cầu áp dụng cần phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định pháp luật, đồng thời sự kết hợp giữa các biện pháp phải hợp lí, mang tính hiệu quả.

Biện pháp bảo đảm

Để đảm bảo bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự, đối với một số biện pháp khẩn cấp tạm thời có khả năng gây thiệt lợi cho người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, pháp luật quy định người yêu cầu cần thực hiện các biện pháp bảo đảm đi kèm. Quy định thực hiện biện pháp bảo đảm có ý nghĩa trong việc hạn chế các trường hợp lạm dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, đồng thời bù đắp những thiệt hại, tổn thất cho bên bị áp dụng trong trường hợp biện pháp được áp dụng không chính xác.

Theo Điều 136 BLTTDS 2015, người yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm cấm người có nghĩa vụ thực hiện một hành vi sau đây cần phải thực hiện biện pháp bảo đảm:

  • Cấm dịch chuyển quyền về tài sản đang tranh chấp
  • Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp

Trong các trường hợp trên, người yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm một trong những cách sau đây:

  • Nộp cho Tòa án chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong vòng 02 ngày làm việc, kể từ thời điểm Tòa án ra quyết định buộc thực hiện biện pháp bảo đảm (có thể dài hơn nếu có lý do chính đáng nhưng phải trước ngày Tòa án mở phiên tòa). Nếu yêu cầu tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ xem xét, thảo luận, giải quyết tại phòng xử án. Trong trường hợp Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của đương sự về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà thuộc trường hợp phải buộc thực hiện biện pháp bảo đảm mà người đó cần có thời gian để thực hiện biện pháp bảo đảm hoặc không thể có mặt tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa trong thời hạn 02 ngày làm việc (khoản 2 Điều 14 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP)
  • Gửi một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá do Tòa án ấn định vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng nơi có trụ sở của Tòa án quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời Việc gửi không quá 48 giờ, kể từ thời điểm nộp đơn yêu cầu. Trường hợp thực hiện biện pháp bảo đảm vào ngày lễ hoặc ngày nghỉ thì Tòa án chỉ nhận tiền đồng Việt Nam (khoản 3 Điều 14 Nghị quyết số 02/2020/NQ-HĐTP), Tòa án phải làm thủ tục giao nhận và gửi ngay khoản tiền đó vào ngân hàng vào ngày làm việc tiếp theo.

Ngoài ra, cần lưu ý, giá trị của chứng từ hay tài sản trên phải tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh. Tòa án chỉ ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khi người yêu cầu thực hiện biện pháp bảo đảm trên.

>>>Xem thêm:
Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vào ngày nghỉ

Trách nhiệm bồi thường

Trong nhiều trường hợp, áp dụng không đúng BPKCTT sẽ gây ra thiệt hại cho người bị áp dụng. Khi đó, trách nhiệm bồi thường được đặt ra để đảm bảo quyền lợi cho người bị thiệt hại. Theo Điều 113 BLTTDS 2015, Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình và phải bồi thường nếu yêu cầu áp dụng BPKCTT không đúng dẫn đến thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba. Ngoài ra, Tòa án cũng có trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp sau:

  • Tòa án tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
  • Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu;
  • Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
  • Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà không có lý do chính đáng.

Việc bồi thường thiệt hại này trong các trường hợp cụ thể sẽ được thực hiện theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi áp dụng không đúng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi áp dụng không đúng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Thông tin liên hệ luật sư

Để được tư vấn cụ thể, bạn đọc có thể liên hệ Luật sư Long Phan PMT theo các thông tin sau:

Hỗ trợ tư vấn trực tiếp:

  • Tại TRỤ SỞ CÔNG TY: Tầng 14 Tòa nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 5, quận 3, TP.HCM.
  • Tại Văn Phòng Luật sư Quận Bình Thạnh: 277/45 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 15, Bình Thạnh, HCM.

Hỗ trợ tư vấn trực tuyến:

  • Tư vấn qua EMAIL: Quý khách hàng muốn được tư vấn chi tiết, cụ thể bằng văn bản qua email vui lòng gửi mail trình bày vấn đề kèm các tài liệu liên quan đến pmt@luatlongphan.vn hoặc info@luatlongphan.vn để đội ngũ luật sư tiếp nhận và tư vấn nhanh chóng.
  • Tư vấn qua ĐIỆN THOẠI: Quý khách hàng vui lòng gọi đến tổng đài 1900 63.63.87 để trình bày nội dung cần tư vấn, đặt câu hỏi hoặc đặt lịch hẹn tư vấn với Luật sư.
  • Tư vấn qua ZALO: Quý khách hàng vui lòng kết nối Zalo theo số điện thoại 0819 700 748 để nhận được sự hỗ trợ chi tiết từ Luật sư.
  • Tư vấn qua FACEBOOK: FANPAGE Luật Long Phan

Bài viết trên đây hy vọng đã cung cấp cho bạn đọc các thông tin hữu ích về cấm người có nghĩa vụ thực hiện một hành vi khi yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nếu Quý khách hàng có nhu cầu đặt lịch tư vấn hay giải đáp các thắc mắc khác, vui lòng liên hệ với Công ty Luật Long Phan PMT qua số hotline 1900.63.63.87 để được TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ hoặc trao đổi trực tiếp với LUẬT SƯ DÂN SỰ. Xin cảm ơn!

Thông qua tổng đài 1900.63.63.87, Luật sư của Long Phan PMT hy vọng có thể giúp đỡ được nhiều người với nhiều nhu cầu dịch vụ pháp lý khác nhau. Hotline 1900.63.63.87 luôn sẵn sàng lắng nghe những thắc mắc từ quý khách hàng mọi lúc, mọi nơi, kết nối bạn đến với những tư vấn từ những luật sư giỏi về chuyên môn, nhiệt tình trong công việc.

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: pmt@luatlongphan.vn hoặc info@luatlongphan.vn.



Nguồn: Luật Sư Vũ Viết Năng – Luật Long Phan

Thứ Bảy, 5 tháng 3, 2022

Các biện pháp ngăn chặn đối với người có nghĩa vụ khi yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án dân sự, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, các đương sự có thể đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với người có nghĩa vụ. Trong nhóm các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong Bộ Luật Tố tụng dân sự, các biện pháp mang tính chất ngăn chặn thường được các đương sự lựa chọn áp dụng. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho bạn đọc các thông tin Các biện pháp ngăn chặn đối với người có nghĩa vụ khi yêu cầu toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Tư vấn áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Tố tụng dân sự

Tư vấn áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Tố tụng dân sự

>>>Xem thêm: Cách Viết Đơn Ngăn Chặn Gửi Tòa Án Phong Tỏa Tài Sản Khi Đang Khởi Kiện

Khi nào phải thực hiện biện pháp ngăn chặn đối với người có nghĩa vụ?

Biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ được tòa án áp dụng khi đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện (các chủ thể có quyền yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định tại điều 111, điều 117 Bộ luật tố tụng dân sự 2015) có đơn yêu cầu hoặc Tòa án xét thấy cần thiết phải thực hiện các biện pháp này.

Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn cho người có nghĩa vụ  nhằm giải quyết các yêu cầu cấp bách của đương sự như: bảo vệ tài sản, bảo toàn tình trạng hiện có của tài sản, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc thi hành án.

Các biện pháp ngăn chặn đối với người có nghĩa vụ khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Các biện pháp ngăn chặn đối với người có nghĩa vụ được hiểu là những biện pháp tác động đến tài sản của người có nghĩa vụ nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản của họ, đảm bảo cho việc hoặc giải quyết vụ án thi hành án.

Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước

Căn cứ Điều 124 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015, Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, khác kho bạc Nhà Nước là được hiểu là sự “đóng băng”, không cho dịch chuyển tài khoản của người có nghĩa vụ tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc Nhà Nước.

Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án sẽ áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này khi có người có nghĩa vụ thỏa mãn điều kiện sau:

  • Có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc Nhà Nước
  • Việc phong tỏa tài khoản đó là cần thiết cho việc giải quyết vụ án hoặc đảm bảo cho việc thi hành án

Phong tỏa tài khoản của người có nghĩa vụ  tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc Nhà nước

Phong tỏa tài khoản của người có nghĩa vụ  tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc Nhà nước

>>>Xem thêm: Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong thời gian vụ án bị tạm đình chỉ

Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ

Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ được quy định tại điều 125 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 là biện pháp giữ nguyên, không cho chuyển dịch tài sản của người có nghĩa vụ và tài sản. Áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nói trên, tài sản bị phong tỏa của người có nghĩa vụ phải đang do người khác  nhận gửi giữ.

Biện pháp khẩn cấp tạm thời này được Tòa án áp dụng khi thỏa mãn các điều kiện sau:

  • Có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản đang gửi người khác giữ.
  • Việc phong tỏa tài sản đó là cần thiết để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án.

Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ

Theo điều 126 Bộ luật tố tụng dân sự, biện pháp phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ được hiểu là việc cô lập không cho phép chuyển dịch tài sản của người có nghĩa vụ.

Điểm khác biệt giữa Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ tại Điều 125 và Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ là trong biện pháp khẩn cấp tạm thời này là tài sản bị phong tỏa không được chủ sở hữu gửi ở đâu đó và do người khác quản lý mà đang do chính chủ sở hữu –  người có nghĩa vụ nắm giữ.

Để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời này đối với người có nghĩa vụ thì trong quá trình giải quyết vụ án có căn cứ cho thấy người có nghĩa vụ có tài sản và việc áp dụng biện pháp này là cần thiết để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc thi hành án.

Các biện pháp khẩn cấp khác được tòa án áp dụng để ngăn chặn hành vi của người có nghĩa vụ

Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự  bên cạnh lựa chọn các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định cụ thể, cá nhân, cơ quan, tổ chức  có thể yêu cầu tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác, được quy định trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác.

Các biện pháp khẩn cấp khác có thể được Tòa án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án như: buộc thực hiện trước 1 phần nghĩa vụ ( Điều 116), cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ (Điều 128), cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định (Điều 127), cấm dịch chuyển quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp ( Điều 121)…

Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ  để đảm bảo việc thi hành án

Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ  để đảm bảo việc thi hành án

>>>Xem thêm:
Có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời cùng lúc nộp đơn khởi kiện không?

Thực hiện nghĩa vụ bảo đảm khi yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Thực hiện nghĩa vụ đảm bảo được hiểu là việc người có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải nộp cho Tòa án các giấy tờ hoặc tài sản như sau:

  • Các chứng từ bảo lãnh được bảo đảm bằng tài sản của ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác hoặc cơ quan tổ chức cá nhân khác
  • Một khoản tiền kim khí quý đá quý hoặc giấy tờ có giá

Các loại giấy tờ hoặc tài sản này do Tòa án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện để đảm bảo bảo vệ lợi ích của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cho người thứ ba.

Các biện pháp khẩn cấp tạm thời: Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước, Phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ, Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ đối với người có nghĩa vụ và các biện pháp khác được quy định tại Khoản 1 Điều 136  khi yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đặt ra nghĩa vụ bảo đảm đối với người có yêu cầu.

Các nghĩa vụ pháp lý khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng của người yêu cầu đối với người có nghĩa vụ

Khi người có quyền yêu cầu tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng với người có nghĩa vụ thì họ phải chịu các hệ quả pháp lý:

Người yêu cầu phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về yêu cầu của mình. Nếu hành vi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba thì người có yêu cầu phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo các quy định tại chương XX Bộ luật dân sự năm 2015.

Liên hệ luật sư

Để được tìm hiểu một cách chi tiết về các biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc cách để yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền lợi cho mình, quý khách vui lòng liên hệ qua Hotline 1900.63.63.87 hoặc:

  • Email: pmt@luatlongphan.vn
  • Fanpage: Luật Long Phan
  • Zalo: 0819700748

Quý khách hàng có thể tư vấn trực tiếp tại:

  • Trụ sở chính Quận 3: Tầng 14, Tòa Nhà HM Town, 412 Nguyễn Thị Minh Khai, Phường 05, Quận 03, Tp Hồ Chí Minh.
  • Văn phòng Bình Thạnh: 277/45 Xô Viết Nghệ Tĩnh, Phường 15, Bình Thạnh, Tp Hồ Chí Minh.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi liên quan đến Các biện pháp ngăn chặn đối với người có nghĩa vụ khi yêu cầu tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời . Qua nội dung tư vấn như trên, người bị kết án có thể thực hiện việc xin hoãn chấp hành hình phạt tù tại cơ quan có thẩm quyền khi thuộc các trường hợp luật định. Nếu quý đọc giả còn thắc mắc liên quan đến vấn đề này hoặc có nhu cầu tìm TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ để hỗ trợ, vui lòng liên hệ qua HOTLINE: 1900.63.63.87. Xin cám ơn!

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email pmt@luatlongphan.vn hoặc info@luatlongphan.vn.



Nguồn: Luật Sư Vũ Viết Năng – Luật Long Phan

Thứ Sáu, 4 tháng 3, 2022

Phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp

Phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp chỉ được tiến hành khi bên cầm cố, thế chấp không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Trong thực tiễn hiện nay, nhằm mục đích đảm bảo các chủ thể thực hiện nghĩa vụ dân sự thì cầm cố, thế chấp tài sản được coi là một biện pháp bảo đảm tương đối an toàn đối với khoản tiền cho vay và là một loại hình giao dịch được sử dụng rộng rãi. Bài viết dưới đây sẽ hướng dẫn chi tiết về vấn đề này.

Thời điểm xử lý tài sản bảo đảm

Thời điểm xử lý tài sản bảo đảm

Các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm

Theo quy định tại Điều 299 Bộ luật Dân sự 2015, các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm gồm:

  • Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
  • Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
  • Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.

Bên cạnh đó, trường hợp phải xử lý tài sản để thực hiện một nghĩa vụ đến hạn thì các nghĩa vụ khác tuy chưa đến hạn đều được coi là đến hạn và tất cả các bên cùng nhận bảo đảm đều được tham gia xử lý tài sản theo khoản 3 Điều 296 Bộ luật Dân sự 2015.

>>>Xem thêm:  Quy trình xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ của ngân hàng

Các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp

Bán đấu giá tài sản

Theo khoản 2 Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP thì trường hợp các bên thỏa thuận về xử lý tài sản cầm cố, thế chấp theo phương thức đấu giá và có thỏa thuận riêng về thủ tục đấu giá, tổ chức đấu giá tài sản thì việc xử lý tài sản thực hiện theo thỏa thuận này. Trường hợp không có thỏa thuận thì việc bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản. Bán đấu giá tài sản là phương thức bảo đảm tính khách quan, đáp ứng lợi ích cho cả hai bên.

Trường hợp xác lập giao dịch bảo đảm các bên có thỏa thuận về việc bán đấu giá, thì khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ, bên bảo đảm hoặc bên nhận bảo đảm sẽ ký hợp đồng bán đấu giá với tổ chức bán đấu giá.

Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản

Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định về bán tài sản trong Bộ luật dân sự và quy định tại khoản 2 Điều 304 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

  • Việc thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 307 Bộ luật này.
  • Sau khi có kết quả bán tài sản thì chủ sở hữu tài sản và bên có quyền xử lý tài sản phải thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua tài sản.

Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định về bán tài sản

Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản cầm cố, thế chấp theo quy định về bán tài sản

Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm

Căn cứ vào Điều 305 Bộ luật dân sự 2015, bên nhận bảo đảm được quyền nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm nếu có thỏa thuận khi xác lập giao dịch bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận, việc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được thực hiện khi bên bảo đảm đồng ý bằng văn bản.

Đối với tài sản bảo đảm có giá trị lớn hơn nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bên bảo đảm; còn giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm.

>>>Xem thêm: Hướng xử lý khi bên nhận bảo đảm tự bán tài sản thế chấp

Thủ tục xử lý tài sản bảo đảm

Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm: Trước khi xử lý tài bảo đảm, bên nhận bảo đảm phải thông báo bằng văn bản trong một thời hạn hợp lý về việc xử lý tài sản bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác. Đối với tài sản bảo đảm có nguy cơ bị hư hỏng dẫn đến giảm sút hoặc mất toàn bộ giá trị thì bên nhận bảo đảm có quyền xử lý ngay, đồng thời phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên nhận bảo đảm khác về việc xử lý tài sản đó. Theo Điều 51 Nghị định 21/2021/NĐ-CP thì:

  • Văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm phải có lý do xử lý tài sản bảo đảm; Tài sản bảo đảm sẽ bị xử lý; Thời gian và địa điểm xử lý tài sản bảo đảm.
  • Phương thức thông báo theo thỏa thuận. Trường hợp không có thỏa thuận thì bên nhận bảo đảm gửi trực tiếp văn bản thông báo cho bên bảo đảm hoặc thông qua ủy quyền, dịch vụ bưu chính, phương tiện điện tử hoặc phương thức khác. Đồng thời phải gửi thông báo cho các bên cùng nhận bảo đảm khác (nếu có) và người giữ tài sản bảo đảm.
  • Thời hạn thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm. Trường hợp không có thỏa thuận thì phải thực hiện trong thời hạn hợp lý, cụ thể là trước 10 ngày đối với động sản, trước 15 ngày đối với bất động sản tính đến thời điểm xử lý tài sản bảo đảm. Trường hợp tài sản bảo đảm là chứng khoán niêm yết, hàng hóa trên sàn giao dịch hàng hóa hoặc động sản khác có thể xác định được giá cụ thể, rõ ràng trên thị trường thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 52 Nghị định này.

Giao tài sản bảo đảm để xử lý: Các bên có thể thỏa thuận về việc giao, xử lý một phần hoặc toàn bộ tài sản bảo đảm theo khoản 1 Điều 52 Nghị định 21/2021/NĐ-CP. Tại Điều 301 Bộ luật dân sự 2015 quy định người đang giữ tài sản bảo đảm có nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm cho bên nhận bảo đảm để xử lý. Trường hợp người đang giữ tài sản không giao tài sản thì bên nhận bảo đảm có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

Định giá tài sản bảo đảm: Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận về giá tài sản bảo đảm hoặc định giá thông qua tổ chức định giá tài sản khi xử lý tài sản bảo đảm.

Thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp: Số tiền có được từ việc xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ và xử lý tài sản cầm cố, thế chấp được thanh toán theo thứ tự ưu tiên quy định tại Điều 308 Bộ luật dân sự 2015.

Xử lý tài sản cầm cố, thế chấp cần được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định

Xử lý tài sản cầm cố, thế chấp cần được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định

>>>Xem thêm:  Tiệm cầm đồ có quyền bán tài sản cầm cố không?

Trên đây là bài viết về Phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp. Nếu bạn đọc có nhu cầu gửi hồ sơ tài liệu hoặc đặt lịch gặp trực tiếp luật sư vui lòng liên hệ với Công ty Luật Long Phan PMT qua số hotline 1900.63.63.87 để được TƯ VẤN LUẬT DÂN SỰ hoặc trao đổi trực tiếp với LUẬT SƯ DÂN SỰ. Xin cảm ơn!

Thông qua tổng đài 1900.63.63.87, Luật sư của Long Phan PMT hy vọng có thể giúp đỡ được nhiều người với nhiều nhu cầu dịch vụ pháp lý khác nhau. Hotline 1900.63.63.87 luôn sẵn sàng lắng nghe những thắc mắc từ quý khách hàng mọi lúc, mọi nơi, kết nối bạn đến với những tư vấn từ những luật sư giỏi về chuyên môn, nhiệt tình trong công việc.

*Lưu ý: Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp. Mọi thắc mắc, góp ý xin vui lòng liên hệ về email: pmt@luatlongphan.vn hoặc info@luatlongphan.vn.



Nguồn: Luật Sư Vũ Viết Năng – Luật Long Phan

DỊCH VỤ LUẬT SƯ LAO ĐỘNG

DỊCH VỤ LUẬT SƯ LAO ĐỘNG  Trong bối cảnh quan hệ lao động ngày càng phức tạp, dịch vụ luật sư lao động đang trở thành lựa chọn tối ưu cho do...